Thế nào là cân bằng dinh dưỡng?

21

Trên thực tế, không có bất kỳ loại thức ăn tự nhiên nào có thể bao hàm toàn bộ dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, cũng không có bất kỳ chất dinh dưỡng nào có chức năng dinh dưỡng toàn diện. Nghĩa là, một loại chất dinh dưỡng, một loại thực phẩm dù số lượng có nhiều đến đâu cũng không thể cung cấp dinh dưỡng toàn diện cho việc duy trì sức khỏe của con người. Bởi vậy, chúng ta nên hấp thụ chất dinh dưỡng tổng hợp thông qua tác dụng của mọi chất dinh dưỡng. Chủng loại thực phẩm càng nhiều, thì các loại chất dinh dưỡng càng toàn diện.

 

Thế nào là cân bằng dinh dưỡng

Một bữa ăn cân bằng là bữa ăn phải cung cấp đủ lượng calo và phải cân đối về mặt chất lượng, đáp ứng đủ nhu cầu các chất dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể. Muốn vậy, bữa ăn không phải chỉ dựa vào các thực phẩm có nguồn gốc thực vật, mà cần phải có cả các thức ăn nguồn động vật giàu chất protein, giàu các vi chất dễ hấp thụ như sắt, kẽm, canxi…

Ngoài việc cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, một bữa ăn cân bằng cũng không thể thiếu được các vi chất dinh dưỡng. Gọi là vi chất dinh dưỡng vì hàng ngày cơ thể con người chỉ cần một lượng nhỏ tính bằng miligam hay một phần nghìn miligam (microgam).

Các loại vi chất dinh dưỡng nếu xảy ra tình trạng thiếu hụt đều gây nguy hại cho sức khỏe, đặc biệt đối với thai nhi và trẻ nhỏ. Trong các vi chất dinh dưỡng, quan trọng nhất gồm có một vitamin (vitamin A) và hai muối khoáng (iốt và sắt).

Thiếu vi chất dinh dưỡng khác với những thiếu đói thông thường (do thiếu protein và năng lượng), bởi vì khi cơ thể thiếu các vi chất dinh dưỡng không gây nên cảm giác đói, nên tình trạng này còn được gọi là đói tiềm ẩn – rất khó nhận biết, nhưng lại gây hậu quả rất lớn đối với sức khỏe và sự phát triển. Nếu để tình trạng thiếu các vi chất dinh dưỡng kéo dài, nguy cơ cơ thể sẽ mắc những bệnh nghiêm trọng để lại di tật như còi xương, bướu cổ, thậm chí có khi phải gánh chịu hậu quả suốt cuộc đời (khô mắt dẫn tới mù lòa, là giai đoạn nặng của thiếu vitamin A).

Thiếu vi chất dinh dưỡng thường kèm theo thiếu dinh dưỡng nói chung. Nhưng thiếu vi chất dinh dưỡng lại không chỉ xuất hiện khi ăn không đủ lượng, mà ngay cả khi ăn no, thì nguy cơ thiếu vi chất dinh dưỡng vẫn có thể xuất hiện vì các nguyên nhân sau:

– Các vi chất dinh dưỡng vốn dĩ phân bố không đều trong thực phẩm. Ví dụ, iốt chỉ có nhiều trong các hải sản, hàm lượng vitamin A và sắt trong thực phẩm không đi đôi với giá trị năng lượng.

– Khi chất lượng cuộc sống được nâng cao thì cơ cấu bữa ăn cũng có sự thay đổi, như tăng tiêu thụ một số thực phẩm nào đó (thịt, mỡ, đường…) nhưng các vi chất dinh dưỡng cũng chưa hẳn được tăng lên một cách tỉ lệ thuận. Thực tế cho thấy vẫn còn khoảng cách giữa mức độ đáp ứng nhu cầu năng lượng với mức độ thỏa mãn nhu cầu vitamin A và sắt.

Một bữa ăn no sẽ bảo đảm được nhu cầu năng lượng, nhưng chưa hẳn đã đảm bảo đủ vi chất dinh dưỡng. Bởi vậy, cần quan tâm thích đáng đến phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng cho mọi người, đặc biệt là với bà mẹ và trẻ em.

Theo các chuyên gia dinh dưỡng, để đảm bảo các chất dinh dưỡng, thì mỗi bữa ăn phải có đủ thành phần của bốn nhóm thức ăn và nên thay đổi thức ăn thường xuyên, đảm bảo tính cân đối giữa các loại thực phẩm để có bữa ăn ngon lành, hấp dẫn:

Nhóm 1: Nhóm cơ bản cung cấp chất glucid (đường, bột) gồm có gạo tẻ, gạo nếp, ngô, kê…

Đây là nhóm cung cấp năng lượng chủ yếu. Ở người Việt Nam, trên 70% năng lượng của bữa ăn do lương thực cung cấp.

Lương thực còn cung cấp nhiều vitamin, nhất là các vitamin nhóm B (B1, B2, PP) và các chất khoáng. Đặc biệt là chất protein, lương thực cũng cung cấp đến 50%.

Nhóm 2: Là nhóm giàu protein (đạm). Đó là các loại protein gốc động vật như thịt, cá, trứng, sữa, tôm, cua, ốc, ếch… và protein gốc thực vật như các loại hạt đậu, lạc, vừng.

Nhóm thức ăn này có nhiệm vụ bổ sung protein. Nhưng thức ăn giàu protein thường có giá trị kinh tế cao, mặt khác cũng không thể ăn nhiều được, mà thường được ăn kèm với lương thực. Cho nên, có thể tùy theo điều kiện thực tế để điều chỉnh cho hợp lý. Nếu tăng lượng thức ăn ở nhóm này, có thể giảm bớt lượng thức ăn nhóm lương thực.

Ngoài ra, nhóm thức ăn này còn cung cấp thêm chất lipit, vì thế đây là những thức ăn có năng lượng cao.

Nhóm 3: Cung cấp chất lipit (béo) như mỡ động vật, bơ và các loại dầu. Nhóm này có 2 nhiệm vụ:

– Thứ nhất, cung cấp chất béo cho cơ thể và phòng chống hiện tượng thiếu các vitamin (bởi chất béo là dung môi tốt cần thiết cho sự phát triển bình thường của trẻ.

– Thứ hai, là nguồn cung cấp năng lượng rất lớn cho cơ thể con người. Nếu bữa ăn có nhiều chất béo, có thể giảm bớt lượng ăn mà năng lượng vẫn đảm bảo đủ.

Nếu thiếu chất béo, sức đề kháng của cơ thể với môi trường bên ngoài sẽ giảm đi, và sự tiêu hóa hấp thụ một số chất cũng giảm theo.

Nhu cầu lipit phụ thuộc vào từng lứa tuổi, tính chất lao động, đặc điểm dân tộc và khí hậu.

Nhóm 4: Cung cấp các loại vitamin, chất xơ và chất khoáng, đặc biệt là vitamin C và betacaroten. Người ta còn gọi đây là nhóm thức ăn bảo vệ sức khỏe. Nhóm này gồm các loại rau xanh và hoa quả tươi, chín. Do đó bữa ăn cần thường xuyên có rau quả tươi.

Chia sẻ

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here